Giáo án Ngữ văn lớp 6 - Tuần 5 - Tích hợp năng lực số và AI năm học 2026-2027

docx 51 trang Duy Hạ 13/10/2026 30
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Giáo án Ngữ văn lớp 6 - Tuần 5 - Tích hợp năng lực số và AI năm học 2026-2027", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxgiao_an_ngu_van_lop_6_tuan_5_tich_hop_nang_luc_so_va_ai_nam.docx

Nội dung tài liệu: Giáo án Ngữ văn lớp 6 - Tuần 5 - Tích hợp năng lực số và AI năm học 2026-2027

  1. Biên soạn: Lop6.com.vn III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC Hoạt động 1. Mở đầu: nếu em là em bé (3 phút) a) Mục tiêu: Nối với tiết 17, tạo nhu cầu tìm hiểu lời từ chối và trò chơi của em bé. b) Nội dung: Nghe GV đọc lại lời mời của những người “trên mây” và câu hỏi của em bé; nói nhanh nếu là em bé, em sẽ đáp thế nào; đối chiếu với hai lời từ chối đã gạch ở nhà. c) Sản phẩm: Một câu trả lời miệng; hai lời từ chối được gạch đúng trong SGK; nhận xét lời em bé khác lời của mình ở chỗ nào. d) Tổ chức thực hiện: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ Nói nhanh một câu; mở SGK kiểm phần đã gạch. Đọc lại lời mời của những người “trên mây” và Dự kiến trả lời: lời chỉ cách của họ. Hỏi: Nếu em là em bé, sau – Có em nói “Đi ngay!”, có em nói “Để tớ xin khi nghe họ chỉ cách, em sẽ nói gì? Yêu cầu mở phép mẹ đã”: chấp nhận ý kiến thật. SGK, đọc hai lời từ chối đã gạch ở nhà. – Hai lời từ chối: “Mẹ mình đang đợi ở nhà” – “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”; “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”. Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ So sánh, chỉ ra một điểm khác. Cho 1 phút: cặp đôi so câu của mình với lời em bé. Bước 3. Báo cáo, thảo luận Trả lời; bạn khác bổ sung. Mời 2 HS; hỏi: Lời em bé khác lời của em ở chỗ Dự kiến trả lời: nào? – Em bé nghĩ ngay đến mẹ, nhắc mẹ trước tiên (“Mẹ mình đang đợi ở nhà”), không cần cân nhắc lâu. Bước 4. Kết luận, nhận định ⇒ Dù rất muốn đi, em bé vẫn nghĩ đến mẹ Chốt và dẫn: hôm nay tìm hiểu vì sao em bé từ trước tiên; từ đó bài thơ mở ra tình mẫu tử. chối, những trò chơi em bày ra và vì sao văn bản không vần vẫn là thơ. 16
  2. Biên soạn: Lop6.com.vn Hoạt động 2.1. Hình thành kiến thức: lời từ chối của em bé (7 phút) a) Mục tiêu: Giải thích lí do em bé từ chối lời mời gọi; nhận xét cách từ chối và phẩm chất của em bé. b) Nội dung: Thảo luận câu 4 (SGK tr. 46) theo kĩ thuật khăn trải bàn (nhóm 4): mỗi em ghi ý riêng ở một góc giấy, nhóm thống nhất ý chung ở ô giữa; trả lời câu hỏi thêm về cách từ chối bằng câu hỏi và về em bé. c) Sản phẩm: Tờ khăn trải bàn có bốn ý cá nhân và ý chung (lí do từ chối, dẫn chứng, nhận xét về em bé); câu trả lời câu 4 ghi vở. d) Tổ chức thực hiện: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ Nhóm 4 kẻ giấy, mỗi em nhận một góc, đọc lại + Câu 4 (SGK tr. 46): Vì sao em bé từ chối lời hai lời từ chối. mời gọi của những người “trên mây” và “trong sóng”? + Hỏi thêm: Qua đó, em thấy em bé là người con như thế nào? Hướng dẫn khăn trải bàn: tờ giấy chia một ô giữa và bốn góc; mỗi em ghi ý của mình vào một góc trong 1 phút, sau đó cả nhóm chọn ý đúng, đủ nhất ghi vào ô giữa. Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ Ghi ý riêng; thống nhất ý chung ở ô giữa, có dẫn Dành 3 phút; gợi (SGV tr. 87: tìm lời đáp của em chứng là lời của em bé. bé để tìm ra lí do): Em bé đáp lại lời mời thế nào? Em nhắc đến ai? “Mẹ mình đang đợi”, “mẹ luôn muốn mình ở nhà” cho thấy em hiểu điều gì về mẹ? Nhóm còn chậm: GV chỉ vào hai dòng có chữ “rời mẹ”. 17
  3. Biên soạn: Lop6.com.vn Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Bước 3. Báo cáo, thảo luận Đọc ý chung; nhóm khác bổ sung, chỉ ra dẫn Mời hai nhóm dán, đọc ô giữa. chứng chưa đúng. Dự kiến trả lời: 4. Lời từ chối của em bé – Câu 4 (SGV tr. 87): mặc dù những người “trên mây” và “trong sóng” chào đón em bé và đã chỉ cho em cách thức đến những xứ sở tuyệt vời nhưng em bé đã từ chối dứt khoát bằng những câu hỏi ngây thơ mà day dứt: “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?”, “làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”. Với em bé, điều quan trọng hơn những cuộc phiêu du chính là sự chờ đợi, mong mỏi em trở về nhà của mẹ: mẹ yêu em nên luôn muốn em ở bên mẹ, em yêu mẹ nên em thấu hiểu tấm lòng của mẹ. – Câu hỏi thêm: em bé là người con yêu mẹ, hiếu thảo, biết nghĩ cho mẹ, đủ sức vượt qua lời mời rất hấp dẫn. + Hỏi thêm: Câu “Làm sao có thể rời mẹ mà đến – Câu hỏi không cần trả lời; nó khẳng định: được?” có cần ai trả lời không? Em bé nói như không thể rời mẹ. Lời từ chối nhẹ nhàng, ngây vậy để làm gì? thơ mà dứt khoát. Bước 4. Kết luận, nhận định Ghi câu trả lời câu 4 vào vở; nêu một việc em sẽ Chốt; nhóm đạt khi có lí do đúng, dẫn đúng lời làm khi được bạn rủ đi chơi lúc người thân đang em bé và có nhận xét về em bé; ghi nhận ý cá chờ. nhân ở các góc giấy. ⇒ Tình yêu và sự thấu hiểu mẹ giúp em bé Liên hệ: nếu HS đã biết truyện Sự tích cây vú chiến thắng những lời mời gọi hấp dẫn: với sữa, nhắc cậu bé ham chơi, bị mẹ mắng liền bỏ em, được ở bên mẹ, làm mẹ vui và được mẹ nhà đi để mẹ mỏi mòn chờ đợi: không phải em yêu thương, che chở là niềm hạnh phúc không nhỏ nào cũng vượt qua được sự ham chơi. Khi gì sánh được (SGV tr. 87). được rủ đi chơi, em nghĩ đến người thân và xin phép. 18
  4. Biên soạn: Lop6.com.vn Hoạt động 2.2. Hình thành kiến thức: trò chơi của em bé và tình mẫu tử (9 phút) a) Mục tiêu: Phân tích hai trò chơi em bé sáng tạo, cách phân vai và tình cảm mẹ con; cảm nhận ý nghĩa câu thơ cuối. b) Nội dung: Trả lời câu 5 (SGK tr. 46) theo nhóm: nhóm 1, 3 tìm hiểu trò chơi (mấy trò, những trò gì, phân vai và sự phù hợp); nhóm 2, 4 tìm hiểu tình cảm em bé dành cho mẹ và mẹ dành cho em bé; cả lớp trao đổi câu thơ cuối. c) Sản phẩm: Câu trả lời của nhóm có dẫn chứng; vở ghi hai trò chơi, hai chiều tình cảm và ý nghĩa câu thơ cuối. d) Tổ chức thực hiện: Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Bước 1. Chuyển giao nhiệm vụ Nhận câu hỏi theo nhóm; đọc lại hai đoạn trò + Câu 5 (SGK tr. 46): Em bé đã sáng tạo ra chơi (SGK tr. 45). những trò chơi gì? Em cảm nhận được gì về tình cảm mẹ con được thể hiện qua những trò chơi ấy? Chia bốn nhóm, mỗi nhóm làm một nửa câu 5 rồi cử đại diện trình bày (cách tổ chức theo SGV tr. 87–88): + Nhóm 1, 3: Em bé nghĩ ra bao nhiêu trò chơi, là những trò nào? Trong mỗi trò, con nhận vai gì, mẹ được giao vai gì? Cách chia vai ấy hợp với con, với mẹ ở chỗ nào? + Nhóm 2, 4: Qua trò chơi, em bé dành cho mẹ tình cảm gì? Mẹ dành cho em bé tình cảm gì? Tìm câu thơ làm căn cứ. Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ Thảo luận, ghi ý và câu thơ làm căn cứ vào vở Dành 3 phút; gợi nhóm 1, 3: Mây và trăng, sóng nhóm. và bến bờ thường ở cạnh nhau thế nào? Gợi nhóm 2, 4: Ai bày ra trò chơi? Vì sao mẹ “đang đợi”, “luôn muốn mình ở nhà”? 19
  5. Biên soạn: Lop6.com.vn Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Bước 3. Báo cáo, thảo luận Trình bày; nhóm 3 bổ sung. Mời nhóm 1 trình bày. Dự kiến trả lời: 5. Trò chơi của em bé và tình mẫu tử – Hai trò chơi: “Con là mây và mẹ sẽ là trăng. / Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta sẽ là bầu trời xanh thẳm.”; “Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ, / Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ.” (SGK tr. 45). – Phân vai phù hợp: con là mây, là sóng (tinh nghịch, bay cao, lan xa); mẹ là trăng, là bến bờ (dịu hiền, bao dung, luôn ở đó đón con). Trong trò chơi ấy, em bé vừa được thoả mong ước làm mây, làm sóng, vừa được quấn quýt bên mẹ như mây bên vầng trăng, như sóng vui đùa bên bờ (SGV tr. 88). Vì thế em thấy trò chơi của mình “thú vị hơn”, “hay hơn”. Mời nhóm 2 trình bày. Trình bày; nhóm 4 bổ sung. Dự kiến trả lời: – Em bé rất yêu mẹ (SGV tr. 88): luôn muốn ở bên mẹ, vui chơi cùng mẹ; lời mời tha thiết, lặp lại hai lần nên sự từ chối của em càng cương quyết; bên mẹ, em sáng tạo những trò chơi hấp dẫn để mẹ cùng chơi. – Mẹ rất yêu con: muốn con ở bên để chăm sóc, chở che, vỗ về (“Mẹ mình đang đợi ở nhà”, “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà”); trong trò chơi, mẹ là vầng trăng dịu hiền, là bến bờ bao dung đón con “vỡ tan vào lòng mẹ”. + Hỏi thêm: Em cảm nhận như thế nào về câu Nêu cảm nhận; bạn khác bổ sung. thơ “Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta Dự kiến trả lời: ở chốn nào.”? Mời 2 HS. – Tình mẹ con đã hoà quyện, lan toả trong mây, trong sóng, thâm nhập khắp vũ trụ mênh mông nên “không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào” (SGV tr. 88): đó là thế giới riêng, ấm áp của hai mẹ con. Chấp nhận cảm nhận khác có căn cứ. 20